Chuyển đổi số tại An Giang - từ quyết tâm chính trị đến hành động đột phá

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, việc Tỉnh ủy An Giang ban hành Chương trình hành động số 02-CTr/TU, ngày 22/8/2025 về thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, không chỉ là sự cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, mà còn thể hiện một bước chuyển mình quyết liệt trong tư duy phát triển. 

Nông dân tỉnh An Giang ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

 

Sau khi hợp nhất tỉnh, An Giang đã khẳng định rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà là “yêu cầu tất yếu khách quan” - là “giải pháp đột phá” để đưa tỉnh “phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Tỉnh xác định mục tiêu đến năm 2030: Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GRDP, xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) nằm trong nhóm 20 tỉnh thành dẫn đầu cả nước, và tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt tối thiểu 55%. Những con số này là sự tính toán cẩn trọng, dựa trên đánh giá thực trạng và tiềm năng của địa phương. 

Năm 2025 đánh dấu một năm đặc biệt quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số của An Giang. Theo Báo cáo tình hình thực hiện Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, tỉnh đã hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao tại Quyết định 204-QĐ/TW của Ban Bí thư trên hệ thống giám sát quốc gia. Đây không phải con số đơn thuần về hành chính, mà là minh chứng cho sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị.

Hạ tầng số đã được tái cấu trúc toàn diện theo mô hình của Văn phòng Trung ương Đảng. 100% các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy và Đảng ủy trực thuộc đã được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng cấp 2, trang bị 105 thiết bị mã hóa đường truyền BML10, đảm bảo xử lý văn bản mật từ Trung ương đến cơ sở một cách thông suốt, an toàn. Đặc biệt, việc chủ động triển khai thêm 85 thiết bị mã hóa đến các cơ quan khối Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cho thấy tầm nhìn liên thông trong hệ thống chính trị. Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp đã vận hành thông suốt với 6.061 cán bộ, công chức tham gia, ghi nhận 257.988 lượt gửi/nhận văn bản từ ngày 01/7/2025. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho việc chuyển đổi từ "văn phòng giấy" sang "văn phòng số". Đáng chú ý, tỉnh đã triển khai thí điểm các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác chỉ đạo, điều hành. Hệ thống AI chuyển đổi giọng nói thành văn bản đã được ứng dụng tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, giúp tổng hợp biên bản làm việc nhanh chóng, chính xác. 

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, Báo cáo cũng chỉ ra thẳng thắn những hạn chế còn tồn tại. Nhiệm vụ số hóa hồ sơ, tài liệu tuy đã đạt 35,25% (vượt mức tối thiểu 30% theo quy định), nhưng vẫn còn 64,75% khối lượng công việc cần hoàn thành. Con số này phản ánh một thực tế: Chuyển đổi số không chỉ là mua sắm thiết bị, xây dựng hệ thống, mà còn là công cuộc chuyển đổi tư duy, thay đổi thói quen làm việc - một quá trình đòi hỏi thời gian và sự kiên trì. Tại cấp cơ sở, đặc biệt là 102 Đảng ủy xã, phường, đặc khu, hạ tầng và trang thiết bị công nghệ thông tin có tới 23% đã xuống cấp, thiếu đồng bộ. Chỉ 10% đơn vị cơ sở bố trí được vị trí việc làm chuyên trách về chuyển đổi số và an toàn thông tin. Tình trạng kiêm nhiệm còn phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng triển khai…

Từ những thành tựu và hạn chế trên, Chương trình hành động số 02-CTr/TU đã đưa ra bảy nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, trong đó đặc biệt nhấn mạnh ba trụ cột then chốt: 

Thứ nhất, tỉnh cam kết "tập trung hoàn thiện thể chế; xóa bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển". Đây không chỉ là khẩu hiệu mà được cụ thể hóa qua cam kết triển khai cơ chế thí điểm, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, thực hiện chính sách miễn trừ trách nhiệm khi thử nghiệm công nghệ mới. Điều này tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và các nhà khoa học dám nghĩ, dám làm. 

Thứ hai, đầu tư mạnh cho hạ tầng số. Với nguồn kinh phí 347 tỷ đồng đã được bố trí cho giai đoạn 2026-2027, tỉnh sẽ tập trung nâng cấp trung tâm mạng, triển khai hệ thống an toàn thông tin, mở rộng mạng mật đến toàn bộ 102 Đảng ủy cấp xã và các cơ quan khối chính quyền, mặt trận. Đặc biệt, việc triển khai mạng 5G toàn tỉnh và đầu tư xây dựng tối thiểu 5 đô thị thông minh đến năm 2030 cho thấy tầm nhìn xa của tỉnh. 

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương trình hành động đặt mục tiêu nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học đạt tối thiểu 8 người/vạn dân đến năm 2030. Để đạt được điều này, tỉnh sẽ triển khai chính sách đặc thù về thu hút, tuyển dụng, đãi ngộ, trọng dụng các nhà khoa học, chuyên gia; tăng cường hợp tác với các đại học uy tín để đào tạo đội ngũ giảng viên đủ năng lực giảng dạy công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật then chốt.

Điểm đặc biệt trong giải pháp của An Giang là sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KHCN-CĐS với các lĩnh vực thế mạnh của địa phương. Tỉnh xác định trọng tâm vào kinh tế biển, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, năng lượng tái tạo, công nghệ chế biến nông sản, du lịch thông minh. Đây là cách tiếp cận thực tế, tránh sự chung chung, dàn trải.

Với quy mô kinh tế số hiện tại mới đạt 8,39% GRDP (năm 2025), việc đặt mục tiêu 30% vào năm 2030 và 50% vào năm 2045 cho thấy An Giang không ngại đặt cho mình những thách thức lớn. Chúng được xây dựng trên nền tảng của sự đánh giá khách quan về thực trạng, sự học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương đi trước, và quan trọng nhất là quyết tâm chính trị được thể hiện qua việc Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ đạo. Việc tỉnh cam kết bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (năm 2025 đã đạt 2,48% với 938,5 tỷ đồng) không chỉ là con số về tài chính, mà còn là tín hiệu mạnh mẽ về sự ưu tiên chiến lược. 

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các địa phương, An Giang đã tập trung vào xây dựng nền tảng vững chắc, từ hạ tầng đến thể chế, từ công nghệ đến con người. Đây là bài toán chiến lược, đòi hỏi sự kiên trì và tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, những khó khăn còn phía trước. Khoảng cách về nguồn lực giữa An Giang với các tỉnh phát triển còn lớn. Việc thu hút và giữ chân nhân tài trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt không dễ dàng. Nhưng với quyết tâm chính trị đã được khẳng định, với lộ trình rõ ràng và nguồn lực đã cam kết, An Giang hoàn toàn có thể biến tầm nhìn thành hiện thực.

"Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" không chỉ là khẩu hiệu, mà là trách nhiệm của từng địa phương, từng cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên. Tỉnh An Giang với Chương trình hành động số 02-CTr/TU, đã chứng tỏ rằng đang quyết tâm thực hiện trách nhiệm đó một cách thiết thực, bài bản và đầy khát vọng. Đây chính là nền tảng để tin tưởng vào một An Giang phát triển bứt phá, giàu mạnh trong tương lai.

Phạm Hoàng Trung

Phó Trưởng phòng Chuyển đối số - Cơ yếu, Văn phòng Tỉnh uỷ An Giang