An Giang tập trung phát triển toàn diện, nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh An Giang xác định ưu tiên phát triển toàn diện, nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số; từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa, củng cố hệ thống chính trị và giữ vững quốc phòng, an ninh.

Phụ nữ đồng bào Chăm của tỉnh An Giang xem các ấn phẩm truyền thông về khởi nghiệp, phát triển kinh tế gia đình.

 

Kế hoạch số 520/KH-UBND, ngày 05/9/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh, xác định mục tiêu xuyên suốt là ưu tiên phát triển toàn diện, nhanh và bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khai thác tiềm năng, phát huy lợi thế của từng địa bàn gắn với bảo vệ môi trường và không gian sinh sống của đồng bào. Cùng với đó là rút ngắn khoảng cách về thu nhập, giảm dần số địa bàn đặc biệt khó khăn, cải thiện sinh kế, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và tăng kết nối với các vùng phát triển. 

Đây không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế mà còn là yêu cầu phát triển đồng bộ về giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, an sinh xã hội và nguồn nhân lực. Tỉnh đặt trọng tâm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới; đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Đến năm 2030, An Giang phấn đấu mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung cả nước; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân từ 0,4%/năm trở lên theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2026-2030. Tỉnh đặt mục tiêu 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 95% thôn có đường đến trung tâm được cứng hóa; 100% trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 99,8% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp; 90% đồng bào được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. 

Các chỉ tiêu về giáo dục, y tế và việc làm cũng được xác định khá cụ thể. Tỉnh phấn đấu tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt trên 99%; học sinh tiểu học và trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi đạt trên 95%; học sinh trung học phổ thông trên 90%. Trên 99% đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế; 100% phụ nữ mang thai được khám thai định kỳ, sinh con tại cơ sở y tế hoặc có cán bộ y tế hỗ trợ. Có từ 35-40% lao động được đào tạo nghề và có thu nhập ổn định, trong đó ít nhất 50% là lao động nữ. 

Một mục tiêu đáng chú ý khác là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo động lực tăng trưởng mới. Hằng năm, tỉnh phấn đấu thu hút khoảng 3% lao động dân tộc thiểu số chuyển sang các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch; đến năm 2030 có 40% lao động dân tộc thiểu số làm việc trong khu vực phi nông nghiệp. Tăng trưởng kinh tế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đặt mục tiêu bình quân tối thiểu 6-6,5%/năm. 

Để đạt được các mục tiêu trên, tỉnh xác định phát triển nguồn nhân lực là một nhiệm vụ đột phá. Trong đó, ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao có khả năng dẫn dắt tổ chức sản xuất, quản lý xã hội; nâng cao năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ, đồng thời phát huy tri thức bản địa và kinh nghiệm sản xuất của đồng bào. Việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ tại chỗ, được đặc biệt chú trọng. 

Song song đó, An Giang tập trung phát triển đồng bộ hạ tầng thiết yếu phục vụ sinh hoạt, sản xuất và giao thương; ưu tiên hệ thống giao thông kết nối liên vùng, nhất là các tuyến kết nối với khu vực biên giới. Tỉnh cũng đặt yêu cầu đẩy mạnh hạ tầng kinh tế số, chuyển đổi số vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo phù hợp điều kiện từng địa bàn. 

Trong phát triển kinh tế, định hướng của tỉnh là khai thác tốt tiềm năng, lợi thế gắn với sản xuất hàng hóa, chế biến và thị trường. Đối với nông nghiệp, tiếp tục tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển vùng chuyên canh quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị; gắn sản xuất nông nghiệp với các sản phẩm chủ lực và Chương trình OCOP. Đồng thời, bố trí nguồn lực giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất và hỗ trợ sinh kế phù hợp cho hộ dân tộc thiểu số. 

Tỉnh chú trọng phát triển kinh tế biên mậu với Campuchia, thúc đẩy lưu thông hàng hóa nội vùng và liên vùng; phát triển thương mại điện tử, quảng bá và kết nối tiêu thụ các sản phẩm đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển du lịch được gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa, du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho người dân. 

Cùng với phát triển kinh tế, tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, tăng cường dạy tiếng Việt và tiếng dân tộc phù hợp; đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng gắn với nhu cầu thị trường lao động và kết nối việc làm sau đào tạo. 

Công tác chăm sóc sức khỏe được triển khai theo hướng củng cố y tế cơ sở, nâng cao năng lực cán bộ y tế, bảo đảm đồng bào được tiếp cận các dịch vụ thiết yếu; thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm y tế, tiêm chủng, dinh dưỡng, dân số và an toàn thực phẩm. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền về bình đẳng giới, phòng ngừa tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. 

Một yêu cầu quan trọng khác là bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc; giữ gìn tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghệ thuật truyền thống và Tết cổ truyền. Việc bảo tồn văn hóa được gắn với phát triển thiết chế văn hóa, du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững, để bản sắc văn hóa vừa được gìn giữ, vừa trở thành nguồn lực cho phát triển. 

Trong quá trình thực hiện, tỉnh nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ động nắm tình hình ở cơ sở, kịp thời giải quyết tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào; phát huy vai trò người có uy tín; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân. 

Để tạo nguồn lực thực hiện, An Giang chủ trương lồng ghép ngân sách nhà nước với các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án và các nguồn hợp pháp khác; đồng thời huy động nguồn vốn tín dụng, nguồn lực xã hội và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện các chương trình, dự án phải công khai, minh bạch, tạo điều kiện để người dân và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, phản biện. 

Với hệ thống mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp khá toàn diện, kế hoạch của tỉnh đặt trọng tâm vào việc chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo động lực để đồng bào chủ động vươn lên, phát huy nội lực và tham gia ngày càng sâu hơn vào tiến trình phát triển chung. Đây cũng là cơ sở để từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác, hướng tới mục tiêu đến năm 2045 cơ bản không còn hộ nghèo, người dân được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản và chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao. 

PV