Những mốc son của niềm tin và khát vọng

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Đảng đã xác lập rõ tư tưởng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN

 

Kể từ khi thành lập, Đảng ta mang trong mình khát vọng thay đổi thời đại, với đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học, phù hợp quy luật phát triển của lịch sử và nguyện vọng của Nhân dân. Trải qua 14 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc lịch sử quan trọng, phản ánh sự phát triển không ngừng của tư duy lý luận và thực tiễn cách mạng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại hội I (1935) đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, sự khôi phục và thống nhất phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân, củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ quốc tế của Đảng. Đại hội thể hiện bản lĩnh trí tuệ của Đảng, đem lại cho toàn thể đảng viên và quần chúng nhân dân niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, chuẩn bị lực lượng đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ chống nguy cơ chiến tranh và chủ nghĩa phát xít những năm 1936-1939; tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939-1945, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Đại hội II (1951) là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của đất nước, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng về mọi mặt. Đại hội đã tổng kết một bước quan trọng trong lý luận cách mạng Việt Nam, xác định đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, công khai tuyên bố Việt Nam là tiền đồn của phe dân chủ ở Đông Nam Á. Đường lối đúng đắn mà Đại hội đề ra chính là sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đó là “đại hội đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.

Đại hội III (1960) khẳng định đường lối tiến hành, đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại hội IV (1976) mở ra kỷ nguyên cả nước thống nhất, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xác định công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm.

Trong bối cảnh nhiều khó khăn, Đại hội V (1982) nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm, bước đầu hình thành những tư duy đổi mới, chuẩn bị tiền đề cho bước ngoặt lịch sử tiếp theo với quyết tâm tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Đại hội VI (1986) là dấu mốc đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài, đồng thời, đặt nền tảng căn bản để Đảng bổ sung, phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới do Đại hội đề ra là sự kết tinh trí tuệ, tư duy khoa học của Đảng và toàn dân, thể hiện quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. Đường lối đổi mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đưa đến luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.

Đại hội VII (1991) tiếp tục khẳng định, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam, đề ra những chủ trương, giải pháp cụ thể đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cương lĩnh do Đại hội thông qua là ngọn cờ chiến đấu dẫn dắt sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng trong giai đoạn tiếp theo.

Đại hội VIII (1996) đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, chuyển đất nước sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội IX (2001) thể hiện rõ nét trí tuệ, bản lĩnh chính trị, sự đoàn kết, dân chủ, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng trước những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới. Đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội xác lập mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức, đẩy mạnh phát triển đất nước trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Đại hội X (2006) đánh dấu đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Đại hội đã thúc đẩy sự năng động, sáng tạo và nỗ lực của toàn dân tộc đẩy mạnh mọi mặt công cuộc đổi mới mà mục tiêu là đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội XI (2011) đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đề ra những định hướng chiến lược đúng đắn, có giá trị trước mắt và lâu dài thể hiện tầm nhìn chiến lược là cơ sở để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Đại hội XII (2016) là dấu mốc phát triển lý luận quan trọng về Đảng, hoạch định những chủ trương, nhiệm vụ về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng trong tình hình mới. Đại hội đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn làm cơ sở chính trị, định hướng cho mọi hoạt động đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam trong những năm 2016-2020. Tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thành công tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, cơ hội mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Đại hội XIII (2021) là Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tổng kết sâu sắc 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991. Đại hội xác định tầm nhìn phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, hướng đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những định hướng chiến lược do Đại hội XIII đề ra tiếp tục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm lịch sử của Đảng trước dân tộc.

Đại hội XIV (2026) của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển mới trong quá trình phát triển của đất nước. Đây là Đại hội định hình tư duy phát triển mang tính đột phá, xác lập các mục tiêu chiến lược trong bối cảnh thế giới biến động mạnh và yêu cầu đổi mới ngày càng cấp thiết. Với việc xác lập các định hướng lớn và khát vọng phát triển đất nước hùng cường thịnh vượng, Đại hội XIV trở thành dấu mốc định vị tầm nhìn, bản lĩnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng đối với tương lai của dân tộc Việt Nam.

Mỗi kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam là một mốc son lịch sử, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ tập thể của toàn Đảng và mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, góp phần bồi đắp niềm tin, khơi dậy trách nhiệm, khát vọng cống hiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong hành trình tiếp nối sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Trúc Linh